Thách thức ẩm độ cao mùa mưa
Từ tháng 5 đến tháng 9, vùng Tà Đùng chìm trong mưa kéo dài, ẩm độ không khí thường ở mức 75–90%. Sương sớm bao phủ rừng và khu nuôi ong từ 5 giờ sáng đến 8–9 giờ, tạo môi trường ẩm ương cho bệnh mốc phát triển. Người nuôi ở đây biết rằng mất đàn do ẩm không kém mất đàn do thiếu ăn.
Sương không chỉ làm ẩm thùng mà còn giảm nhiệt độ xuống 15–18°C vào sáng sớm. Ong dú không thích lạnh kéo dài, đàn sẽ co lại, hoạt động chậm, khó kiếm ăn. Nếu sương kéo dài quá 3 giờ liên tục, ong thường không bay được, khiến hive bị mốc nhanh.
Bố trí tổ chống ẩm trên địa hình đồi
Mình chọn vị trí cao hơn vùng xung quanh ít nhất 1–1,5m để nước mưa không tích đọng. Tránh đặt tổ sát gốc cây hoặc dưới bóng quá dày, vì sương cứng lâu ở những chỗ kín gió. Hướng tổ về phía đông nam, để mặt trời sáng sớm có thể làm khô sương nhanh.
Dùng giá đỡ bằng gỗ hoặc tre, nâng thùng cao 50–70cm so với mặt đất, tránh tiếp xúc trực tiếp với đất ẩm. Chừa khoảng trống dưới tổ để gió lưu thông, giảm ẩm từ dưới lên. Trên đồi dốc, mình thường xây dựng từng bậc nhỏ để tổ ổn định, tránh trượt khi mưa.
Thông gió và quản lý độ ẩm trong thùng
Thùng ong dú cần có lỗ thông gió ở phía trên cùng (gần nắp) và ở sát đáy. Lỗ trên giúp hơi ẩm thoát ra, lỗ dưới cho gió lưu thông. Người nuôi ở Tà Đùng thường lắp lưới sắt nhỏ hoặc lỗ đường kính 0,5cm để kiến không xâm nhập. Mùa mưa, mở rộng các lỗ này hơn so với mùa khô, nhưng vẫn phải cân bằng để ong không bị lạnh quá.
Kiểm tra thùng 2–3 lần mỗi tuần. Nếu thấy độ ẩm cao (dễ nhận biết khi nắp hoặc tường trong có nước), dùng giẻ sạch thấm ẩm hoặc đặt than hoạt tính bên trong để hút ẩm. Tuyệt đối không dùng nguồn nhiệt nhân tạo vì có thể gây cháy hoặc làm ong căng thẳng.
Bảo vệ đàn khỏi thú rừng và kiến mùa mưa
Mùa mưa, kiến lửa và kiến vàng hoạt động mạnh, đặc biệt khi đất ẩm. Mình dùng chất cách ly bằng dầu hoặc nước muối xung quanh chân giá đỡ, thay mỗi tuần. Một số người nuôi lắp bẫy kiến bằng chai nước hoặc dầu ở các chân tổ. Kiến càng không được phép vào thùng vì chúng sẽ quấy rầy ong, làm đàn suy.
Thú rừng như gấu hay dơi ăn mật tăng hoạt động khi mưa. Bắt buộc phải dựng hàng rào hoặc lưới bảo vệ xung quanh khu nuôi, đặc biệt về đêm. Một số trại lắp đèn yếu ở gần tổ để kinh hoảng thú rừng. Tuyệt đối không để tổ cô lập; nuôi thành nhóm 3–5 tổ gần nhau dễ phòng chống hơn.
| Chỉ số | Mùa mưa (5–9) | Mùa khô (10–4) |
|---|---|---|
| Ẩm độ không khí | 75–90% | 50–65% |
| Nhiệt độ sáng sớm | 15–18°C | 18–22°C |
| Thời gian sương | 5–9 giờ sáng | 6–8 giờ sáng |
| Lượng mưa tháng | 150–250mm | 20–50mm |
| Tần suất kiểm tra tổ | 2–3 lần/tuần | 1–2 lần/tuần |
Câu hỏi thường gặp
Ong dú có thể sống được khi ẩm độ trên 85% không?
Ong dú chịu ẩm tốt hơn ong mật, nhưng trên 85% kéo dài hơn 2 tuần sẽ gây mốc bên trong tổ. Bệnh mốc làm ong suy, bị bệnh hô hấp, cuối cùng đàn suy yếu hoặc chết. Người nuôi phải tích cực thông gió và hút ẩm.
Tôi có thể di chuyển tổ ong dú khi mưa không?
Tránh di chuyển khi mưa kéo dài. Nếu phải di chuyển, chọn buổi chiều khi sương tan và ẩm vừa giảm. Mục tiêu là ong không bị sốc nhiệt. Trên đồi dốc, di chuyển từ từ, tránh va chạm mạnh vào đá hoặc cây.
Sương sớm dày có ảnh hưởng đến năng suất mật không?
Có. Khi sương dày, ong bay muộn, thời gian kiếm ăn bị rút ngắn. Nếu sương kéo dài 3 ngày liên tiếp, lượng nước hút vào tổ cũng tăng, làm ong phải dành công sức để làm khô. Năng suất mật mùa mưa thường chỉ bằng 40–60% so với mùa khô.
Làm sao phân biệt ẩm độ cao và bệnh mốc?
Ẩm độ cao là nguyên nhân, bệnh mốc là kết quả. Nếu thấy các bọng sáp bị mốc trắng/xám hoặc có mùi ẩm mốc lạ, đó là bệnh. Lúc đó phải tăng thông gió ngay lập tức, loại bỏ các bọng bị nhiễm nếu có thể, và giảm ẩm trong tổ trong vòng 1 tuần.