Người mới hay hỏi nuôi ong dú thế nào cho đúng. Câu trả lời thay đổi theo vùng nhiều hơn người ta tưởng.
Ở Tà Đùng, ven hồ Tà Đùng và rừng tự nhiên, độ cao 700 đến 900 mét, địa hình đồi dốc. Cách nuôi phổ biến tại đây hình thành từ chính điều kiện đó.
Ở Tà Đùng, cách phổ biến là đặt tổ ven bìa rừng hoặc trong rẫy có tán che, chọn chỗ thoát sương.
Cách này hình thành vì sương sớm dày và ẩm cao làm thùng dễ mốc, sáp mềm. Người nuôi ở đây thử nhiều kiểu rồi mới rút ra, nên đáng học theo hơn là làm theo hướng dẫn chung.
Ngoài ra còn phải tính tới đường đồi dốc khó đi lại, việc thăm tổ và vận chuyển đều vất vả hơn, nên bố trí khu nuôi cũng khác các vùng khác.
Điều đáng nói là mô hình này không cố định. Nguồn hoa và cách canh tác quanh vùng đổi thì cách nuôi cũng phải đổi theo.
Ba kiểu thường gặp, xét trong điều kiện Tà Đùng.
| Kiểu | Hợp khi nào | Ưu | Nhược |
|---|---|---|---|
| Vài tổ trong sân nhà | Nhà có sân, ít đất | Dễ trông, tiện chăm | Ít mật, hạn chế mở rộng |
| Cụm tổ trong vườn | Có vườn vài trăm m² | Cân bằng nhất | Cần chống kiến kỹ |
| Nhiều cụm rải trong đất rộng | Đất rộng, nguồn hoa tốt | Nuôi được nhiều | Tốn công đi lại |
| Đặt nhờ đất người khác | Nhà không có đất | Tận dụng vùng nhiều hoa | Phụ thuộc chủ đất |
| Kết hợp với canh tác | Có vườn cây ăn trái | Ong thụ phấn cho vườn | Rủi ro thuốc |
Số tổ hợp lý không phụ thuộc diện tích vườn mà phụ thuộc nguồn hoa trong bán kính vài trăm mét.
Ở Tà Đùng, nguồn chính gồm cây rừng tự nhiên, cà phê, muồng và lớp hoa dại. Đi một vòng bán kính bốn trăm mét quanh nhà, đếm chỗ có hoa, đó mới là con số đáng tin.
Nuôi quá dày thì đàn nào cũng lửng lơ, không đàn nào bứt lên, và mùa tháng 1 đến tháng 3 là cả loạt cùng suy.
Cách an toàn là tăng dần: năm nay vài tổ, thấy nhẹ nhàng thì sang năm thêm.
Chỗ đặt tổ nên kê khoảng một mét trên đất dốc, kê chắc để không trượt, đây là con số tính riêng cho Tà Đùng.
Chọn hướng có nắng buổi sáng và bóng che buổi chiều.
Chống kiến phải làm kỹ vì thú rừng và kiến rừng nhiều ở khu ven rừng tự nhiên.
Lịch làm việc bám theo mùa hoa: tách đàn trong tháng 5 đến tháng 10, thu mật cuối mùa mưa, để yên trong tháng 1 đến tháng 3.
Đây là cách nhanh nhất và thường bị bỏ qua.
Người đã nuôi vài năm ở Tà Đùng biết những chuyện không có trong sách: tháng nào hay mất đàn, chỗ nào trong xã nuôi tốt, ai bán tổ đáng tin.
Đi thăm một hai trại trong vùng trước khi mua tổ đầu tiên. Nhìn cách họ kê thùng, đặt ở đâu, che chắn ra sao.
Một buổi đi thăm bằng nhiều tháng đọc.
Hai tới ba tổ đã ổn định, nuôi trọn một năm rồi mới tính mở rộng.
Không có mô hình nào cho nhiều mật hơn hẳn. Nguồn hoa quanh tổ quyết định nhiều hơn cách bố trí.
Vẫn nuôi được vài tổ ở sân, ban công hoặc sân thượng nếu quanh đó có cây xanh.
Được nếu thoả thuận rõ ràng. Ưu điểm là chọn được nơi nhiều hoa, nhược là phụ thuộc chủ đất.
Sau một năm, khi đã qua đủ tháng 5 đến tháng 10 và tháng 11 đến tháng 4.
Nhóm nuôi ong và biên tập của Trại Ong Dú OngDu.com — trại nuôi ong dú thật cách trung tâm TP.HCM khoảng 40km, mở tour cho khách tự tay mở thùng và thu mật. Bài viết dựa trên việc làm hằng ngày ở trại và những lỗi người mới hay g…
Xem trang tác giả →Nhà ven hồ, ven rừng Tà Đùng nhiều hoa rừng, vườn cà phê, nhưng cũng nhiều kiến, thằn lằn, sương lạnh. Cách nuôi vài tổ ong dú quanh nhà, giữ đàn qua
Rẫy cà phê ven hồ, ven rừng Tà Đùng nuôi được ong dú nếu đặt tổ đúng chỗ, giữ thuốc phun trong đợt cà phê nở hoa, chọn nơi thoát sương và không bắt tổ
Hoa cà phê nở rộ nhưng ngắn, mùa mưa cao nguyên dài: ở ven hồ, ven rừng Tà Đùng nên nuôi mấy tổ ong dú? Cách chọn đặt tổ ở nhà hay ngoài rẫy và tính t
Nuôi ong dú ven hồ, ven rừng Tà Đùng, tiền đi theo mùa: mùa khô lo nắng gió và nước, mùa mưa lo ẩm, mưa dầm và đường sá. Bài dựng một cuốn sổ chi năm
Đất đồi quanh hồ Tà Đùng dốc, mưa dài, sương đọng dưới thung. Cách chọn sườn đồi, xẻ mặt bằng cho chân kê, làm lối đi ngang sườn và sống cạnh rừng mà
Ba vấn đề đặc thù của Tà Đùng và cách người nuôi tại chỗ đang xử lý. Biết trước thì chuẩn bị được, thay vì mất đàn rồi mới hiểu ra.
Nuôi ong dú ven hồ Tà Đùng và vùng rừng Đắk Nông. Địa hình đồi dốc, sương sớm dày, ẩm cao, rừng tự nhiên còn nhiều. Thách thức riêng: sương làm ẩm thùng, đêm lạnh, thú rừng và kiến, di chuyển tổ trên đường đồi.